Quốc tang nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười trong hai ngày 6 và 7-10

Thứ Năm, 04/10/2018, 07:29 [GMT+7]
.
.

Ngày 3-10, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam phát đi thông cáo đặc biệt về việc nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười mất do tuổi cao, bệnh nặng vào đêm 1-10.


Thông cáo có đoạn: “Hơn 80 năm hoạt động cách mạng, đồng chí đã có nhiều đóng góp to lớn đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc. Đồng chí được Đảng, Nhà nước tặng thưởng huân chương Sao vàng, huy hiệu 80 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác. Đồng chí mất đi là một tổn thất to lớn đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân ta”.

Để tỏ lòng tưởng nhớ nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười, Đảng, Nhà nước, MTTQ Việt Nam quyết định tổ chức tang lễ cho ông với nghi thức quốc tang trong hai ngày 6 và 7-10.

qtv
Tổng Bí thư Đỗ Mười nói chuyện thân mật với nhân dân xã Lê Lợi, huyện Thường Tín (Hà Tây cũ)  ngày 1-11-1992. Ảnh: TTXVN

Ban lễ tang gồm 39 thành viên do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng ban.

Lễ viếng sẽ bắt đầu từ 7 giờ ngày 6 đến 7 giờ 30 ngày 7-10 tại Nhà tang lễ quốc gia, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội.

Lễ truy điệu vào 9 giờ ngày 7-10 tại địa điểm trên và an táng từ 13 giờ cùng ngày tại quê nhà ở xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, Hà Nội.

Cùng thời gian này, tại Hội trường Thống Nhất TP.HCM cũng tổ chức lễ viếng, lễ truy điệu…

VTV và VOV sẽ tường thuật trực tiếp lễ viếng, lễ truy điệu và lễ an táng nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười tại Hà Nội và TP.HCM.

Trong hai ngày quốc tang, các công sở, các nơi công cộng treo cờ rủ và ngừng các hoạt động vui chơi giải trí.

Tiểu sử nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười

Ông Đỗ Mười tên khai sinh là Nguyễn Duy Cống, sinh ngày 2-2-1917; quê xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, Hà Nội; thường trú tại số 11 phố Phạm Đình Hổ, phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Ông tham gia cách mạng năm 1936 trong phong trào Mặt trận Bình dân, sang năm 1937 tham gia Tổ chức Ái hữu thợ mỏ Hòn Gai. Năm 1938, ông về quê nhà Thanh Trì hoạt động, vào Công hội, vận động phong trào ủng hộ Liên Xô. Tháng 6-1939, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, nay là Đảng Cộng sản Việt Nam.

Năm 1941, ông bị thực dân Pháp bắt, kết án 10 năm tù, giam ở nhà tù Hà Đông và nhà tù Hỏa Lò... Bốn năm sau, vào dịp Nhật đảo chính Pháp, ông vượt ngục, bắt liên lạc với Đảng và tiếp tục hoạt động, được phân công về tham gia Ban khởi nghĩa Tỉnh ủy Hà Đông, phụ trách phong trào cách mạng huyện Ứng Hòa và Mỹ Đức, tham gia lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh Hà Đông.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông làm Bí thư Tỉnh ủy Hà Đông, rồi đầu năm 1946 làm Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam, cuối năm đó làm Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến tỉnh Nam Định.

Từ năm 1947 đến 1949, ông là Khu ủy viên Khu III, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình, Bí thư Tỉnh ủy Hòa Bình. Năm 1950, ông được Đảng phân công làm Phó Bí thư Liên Khu ủy kiêm Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính Liên khu III, Chính ủy kiêm Tư lệnh Liên khu III. Giai đoạn 1951-1954, ông làm Bí thư Khu ủy khu Tả ngạn sông Hồng kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính và Chính ủy Quân khu Tả ngạn sông Hồng.

Sau kháng chiến chống Pháp, năm 1955, ông là Bí thư Thành ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Quân chính TP Hải Phòng.

Tháng 3 cùng năm, ông được bầu bổ sung Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và sau đó được bầu làm Ủy viên Trung ương các khóa III, IV, V, VI, VII.

Từ khi vào Trung ương, ông Đỗ Mười trải qua cương vị Thứ trưởng Bộ Thương nghiệp (từ năm 1956), Bộ trưởng Bộ Nội thương (từ năm 1958), Chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước và Trưởng phái đoàn Thanh tra Chính phủ (1967-1968), Phó Thủ tướng kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Kiến thiết cơ bản Nhà nước (1969-1973), Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Phó Chủ tịch Hội đồng chi viện tiền tuyến Trung ương và chống phong tỏa cảng Hải Phòng (năm 1973).

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (tháng 12-1976), ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, giữ chức vụ Phó Thủ tướng Chính phủ, phụ trách các khối xây dựng cơ bản, công nghiệp, vật tư, cải tạo công thương nghiệp và phân phối lưu thông.

Là Ủy viên Bộ Chính trị tại Đại hội V (tháng 3-1982), ông tiếp tục giữ chức vụ Phó Thủ tướng Chính phủ, phụ trách các khối xây dựng cơ bản, công nghiệp, vật tư.

Tiếp tục là Ủy viên Bộ Chính trị tại Đại hội VI (tháng 12-1986), ông được phân công làm Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng.

Giữa nhiệm kỳ, tháng 6-1988, ông được Quốc hội bầu làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6-1991), ông tái cử Bộ Chính trị, giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng; Bí thư Quân ủy Trung ương.

Tháng 12-1997, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tư khóa VIII, ông xin thôi tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng, thôi giữ chức Tổng Bí thư, làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng đến năm 2000.

Ngoài các cương vị nêu trên, ông còn là đại biểu Quốc hội các khóa II, IV, V, VI, VII, VIII và IX.

Do có nhiều công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, ông được Đảng và Nhà nước tặng thưởng huân chương Sao vàng, huy hiệu 80 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác của Việt Nam và quốc tế.

 
Theo Nghĩa Nhân (PLO) Thứ Năm, ngày 4/10/2018 - 01:45
 
.
.
.
.
.
.